Bảng phân loại tình trạng dinh dưỡng – Y Học Cộng Đồng

Bởi tronbokienthuc
Chia sẻ bài viết

 

Mục Lục Bài Viết

A – Đánh giá và phân loại tình trạng dinh dưỡng người lớn

Tổ chức Y tế quốc tế khuyên dùng “ chỉ số khối khung hình ” ( Body Mass Index – BMI ), WHO 1995 ) để đánh giá tình trạng dinh dưỡng của người trưởng thành. Theo WHO thì tình trạng dinh dưỡng ở người trưởng thành được đánh giá là “ Bình thường ” khi BMI trong ngưỡng 18,50 – 24,99 ; “ Gầy ” khi chỉ số BMI < 18,50 ; “ Thừa cân ” khi BMI > 25,0 ; “ Béo phì ” khi BMI > 30,0 .
Thừa cân là tình trạng vượt quá cân nặng nên có so với chiều cao còn béo phì là tình trạng tích góp mỡ thái quá không thông thường một cách cục bộ hay toàn thể của lipid trong những tổ chức triển khai mỡ tới mức tác động ảnh hưởng xấu đến sức khỏe thể chất. Có nhiều chỉ số hoàn toàn có thể dùng để đánh giá tình trạng thừa cân – béo phì. Trên hội đồng, để đánh giá mức độ thừa cân – béo phì, người ta thường dùng chỉ số khối khung hình BMI = W ( kg ) / ( H * H ) ( m ) và dựa vào bảng phân loại sau :

Trọng lượng của (kg):
Chiều cao của (cm):

Chỉ số BMI là:

Bảng phân loại Tình trạng dinh dưỡng dành cho người trưởng thành

Phân loại tình trạng dinh dưỡng dựa theo chỉ số BMI WHO-2006

Ghi chú:
W (Weight): cân nặng tính theo ki lô gam (kg)
H (Height): chiều cao tính theo mét (m)

B – Đánh giá và phân loại tình trạng dinh dưỡng trẻ nhỏ

Phát hiện suy dinh dưỡng ở trẻ nhỏ

1. Đơn giản nhất là dùng biểu đồ tăng trưởng đánh giá cân nặng của trẻ theo độ tuổi. Biểu đồ tăng trưởng được đính kèm trong sổ theo dõi sức khỏe trẻ em, cấp cho mỗi trẻ sau sinh và dùng đến 6 tuổi. Hàng tháng trẻ sẽ được cân đo tại các cơ sở y tế địa phương, ghi nhận cân nặng vào biểu đồ và vẽ đường phát triển cân nặng theo tuổi. Trẻ được xem là có nguy cơ suy dinh dưỡng nếu đứng cân liên tục trong vòng 3 tháng, đường phát triển cân nặng theo tuổi đi theo hướng nằm ngang. Trẻ suy dinh dưỡng nếu đường phát triển cân nặng theo tuổi nằm bên dưới đường chuẩn của biểu đồ.
2. Tuy nhiên để đánh giá dinh dưỡng toàn diện cần có ít nhất 3 chỉ số:

  • Cân nặng theo tuổi·
  • Chiều cao theo tuổi·
  • Cân nặng theo chiều cao.

Các chỉ số này sẽ được so sánh với quần thể tìm hiểu thêm được Tổ Chức Y Tế Thế Giới khuyến nghị vận dụng năm 2006 ( trẻ nhỏ dưới 5 tuổi ) và năm 2007 ( trẻ nhỏ tuổi học đường ) sau đây :
Một số chỉ số nhân trắc khác cũng được dùng để phát hiện đánh giá suy dinh dưỡng như số đo vòng đầu, vòng cánh tay … nhưng thời hạn sau này ít được vận dụng do không đơn cử, chi tiết cụ thể và không đúng mực vì phải phụ thuộc vào vào cách đo, kiến thức và kỹ năng thực hành thực tế …

Phân loại suy dinh dưỡng ở trẻ nhỏ trên lâm sàng dựa trên những chỉ số nhân trắc

Suy dinh dưỡng : Chỉ số cân nặng theo tuổi < –2SD so với quần thể tiêu chuẩn WHO-2006. Chỉ số này biểu hiện một tình trạng thiếu hụt về dinh dưỡng nhưng không đánh giá được tình trạng thiếu hụt đó xảy ra trong khoảng thời gian này hay từ trước. Dù vậy đây vẫn là chỉ số dễ áp dụng nhất trong cộng đồng nên vẫn thường được dùng như một chỉ số chuẩn đánh giá tình trạng thiếu dinh dưỡng của cộng đồng trong tất cả các cuộc điều tra về dinh dưỡng và dùng để phát hiện sớm tình trạng thiếu hụt chất dinh dưỡng. Sau khi có hướng chẩn đoán suy dinh dưỡng dựa trên các chỉ số còn lại để đánh giá tình trạng suy dinh dưỡng.

  • Suy dinh dưỡng cấp : Chỉ số chiều cao theo tuổi bình thường, nhưng cân nặng/chiều cao <-2SD,  biểu thị suy dinh dưỡng mới diễn ra, và chế độ ăn hiện tại chưa phù hợp với nhu cầu.
  • Suy dinh dưỡng mãn đã phục hồi: Chiều cao theo tuổi <-2SD nhưng cân nặng theo chiều cao bình thường. Phản ảnh sự thiếu dinh dưỡng đã xảy ra trong một thời gian dài, nặng và sớm vì đã gây ảnh hưởng trên sự phát triển tầm vóc của trẻ. Nhưng tình trạng dinh dưỡng hiện đã phục hồi, ở những đối tượng này cần thận trọng với nguy cơ béo phì vì chiều cao thấp.
  • Suy dinh dưỡng mãn tiến triển : Chiều cao theo tuổi < -2SD và cân nặng theo chiều cao cũng <-2SD chứng tỏ tình trạng thiếu dinh dưỡng đã xảy ra trong quá khứ và tiếp tục tiến triển đến hiện nay.
  • Suy dinh dưỡng bào thai : Đánh giá dựa vào cân nặng <2500g, chiều dài < 48cm và vòng đầu <35cm sau khi trẻ chào đời.

Đánh giá mức độ suy dinh dưỡng ở trẻ nhỏ

Ở tổng thể những loại suy dinh dưỡng kể trên, khi có một chỉ số < - 2SD là suy dinh dưỡng vừa, < - 3SD là suy dinh dưỡng nặng . Đối với suy dinh dưỡng bào thai, chỉ giảm cân nặng là suy dinh dưỡng nhẹ, giảm cân nặng và chiều cao là suy dinh dưỡng vừa, giảm cả cân nặng, độ cao, vòng đầu là suy dinh dưỡng nặng .

Đánh giá tình trạng dinh dưỡng của trẻ nhỏ hơn 5 tuổi

Chỉ số cân nặng theo tuổi với Z-Score

 

Chỉ số cao theo tuổi với Z-Score

Chỉ số cân theo cao với Z-Score

Chỉ số BMI theo tuổi với Z-Score

Đánh giá tình trạng dinh dưỡng của trẻ 5 – 9 tuổi

Đánh giá chỉ số Z-Score cân nặng theo tuổi

Đánh giá chỉ số Z-Score cao theo tuổi

Đánh giá chỉ số Z-Score BMI theo tuổi

Đánh giá tình trạng dinh dưỡng của trẻ 10 – 19 tuổi

Đánh giá chỉ số Z-Score cao theo tuổi với Z-Score

Đánh giá chỉ số Z-Score BMI theo tuổi

Xem thêm

Biểu đồ tăng trưởng trẻ dưới 5 tuổi

Tài liệu tham khảo

http://viendinhduong.vn/news/vi/37/23/a/bang-phan-loai-bmi.aspx

You may also like

Để lại bình luận