chương trình giáo dục mầm non – Tài liệu text

Bởi tronbokienthuc

chương trình giáo dục mầm non

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (57.36 KB, 11 trang )

HỌC PHẦN: ĐÁNH GIÁ TRONG GIÁO DỤC
Chương 1: Những vấn đề chung trong đánh giá
I. Ý nghĩ, khái niệm
1. Đo lường, đánh giá, định giá trị
* Đo lường chính là sự nhận định số lượng hay chính là việc
đưa ra giá trị bằng số cho việc làm của 1 cá nhân. Hay có thể
hiểu đo lường trong GD nó chính là quá trình thu thập
thông tin định lượng về đại lượng cần đo như nhận thức, tư
duy, kĩ năng hoặc các phẩm chất nhân cách khác nhau.
– Đo lường trong GD nó liên quan chặt chẽ đến con người,
nó vừa tạo ra thước đo lại vừa là đối tượng để đo, đo lường
trong giáo dục mang tính gián tiếp nó không thể tách rời
những đại lượng mang tính định tính.
* Định giá trị đó là sự giải thích mang tính chất tổng kết các
dữ liệu có được từ những bài kiểm tra hoặc từ những công
cụ đo.
– Đánh giá: Là việc đưa ra những nhận định về các năng lực
phẩm chất của 1 quá trình giáo dục dựa vào những thông tin
mang tính định tính và định lượng từ các phép đo.
– Đánh giá có rất nhiều loại:
+ Đánh giá đầu vào
+ Đánh giá chuẩn đoán
+ Đánh giá tiến trình
+ Đánh giá tổng kết
* Mối quan hệ giữa 3 đại lượng: Đánh giá, đo lường, định
giá trị.
– Muốn tiến hành được quá trình đánh giá thì người ta phải
tiến hành đo lường các thuộc tính của đối tượng và cụ thể
hóa nó bằng những chỉ số giá trị nhất định, giá trị chính là
cơ sở để xây dựng thước đo và đánh giá, giá trị xác định
được kết quả của quá trình đánh giá.

Như vậy, để tiến hành công việc đánh giá, luôn luôn cần phải
đo lường các đại lượng cần đo và định giá trị nó.
VD: Để xác định được mức độ hứng thú của trẻ 5-6 tuổi khi
tham gia vào hoạt động tạo hình và đi đến 1 kết luận rằng
tính hứng thú của trẻ độ tuổi này vượt trội hơn so với độ
tuổi khác. Chúng ta sẽ phải tiến hành đánh giá thông qua

các bài tập đo lường về mức độ hứng thú của trẻ đó là các
bài tập về vẽ, nặn, xé, cắt, dán, chắp ghép qua các độ tuổi bé,
nhỡ và lớn. Ở mỗi một bài tập đo lường chúng ta lại định giá
trị ở các mức độ tốt, khá, trung bình và yếu rồi từ đó đi đến
kết luận ban đầu.
2. Vị trí, vai trò của đánh giá
Vì sao đánh giá được xem là công cụ quan trọng của giáo
viên và nhà quản lí giáo dục?
– Đánh giá là biện pháp quan trọng của nhà quản lý giáo dục
và là công cụ của các nhà quản lý.
+ Đánh giá giúp cho các nhà quản lý biết được chất lượng
giáo dục đã đạt được mục tiêu hay chưa, đạt ở mức độ nào
để từ đấy điều chỉnh được nội dung, cách thức tổ chức đạt
mục tiêu (tổ chức đánh giá, điều chỉnh chương trình đào tạo,
nội dung đào tạo, những hình thức tổ chức dạy và học). Chỉ
có khi tiến hành quá trình đánh giá thì các nhà quản lý giáo
dục mới có được những thông tin phản hồi kịp thời phát
hiện các vấn đề và giải quyết các vấn đề.
+ Đánh giá là 1 trong số những biện pháp đi sâu vào việc cải
cách giáo dục bởi cải cách giáo dục đều phải lấy đánh giá
làm cơ sở.
– Đánh giá là công cụ hành nghề của giáo viên mầm non.

Giáo viên là người trực tiếp tạo ra các sản phẩm giáo dục,
muốn biết được sản phẩm của mình đạt chất lượng hay
không thì phải tiến hành đánh giá.
+ Kết quả của việc đánh giá cung cấp thông tin cho giáo viên
kịp thời điều chỉnh những mặt hạn chế về mặt nội dung,
phương pháp và bổ sung những mặt hạn chế đó.
+ Để đánh giá đạt chất lượng, giáo viên cần xác định được
mục đích đánh giá. Có 3 mục đích:
/ Hình thành những quyết định cụ thể về cá nhân hay 1
nhóm trẻ.
/ Lập kế hoạch dạy học hoặc đánh giá cho giai đoạn tiếp
theo.
/ Điều chỉnh những hành vi của trẻ
+ Giáo viên có thể sử dụng kết quả đánh giá trong việc quản
lý lớp học và kết quả đánh giá của giáo viên sẽ trao đổi với

phụ huynh, do đó giáo viên cần đánh giá 1 cách khách quan
và công bằng.
3. Chức năng của đánh giá trong giáo dục mầm non
? Hãy phân tích các chức năng của đánh giá trong GDMN?
VD?
a/ Chức năng định hướng
VD: Giáo viên đánh giá, xác định hoạt động tạo hình của trẻ.
Mục tiêu đạt 90% theo ý của cô, nhưng trong khi đó trẻ chỉ
đạt 50%. Giáo viên nhận thấy được kết quả không đạt và
giáo viên phải nghĩ xem làm thế nào để đạt được mục tiêu.
b/ Chức năng kích thích, tạo động lực
VD: Cô khen những bài làm tốt, cô khuyến khích giờ vẽ lần
sau cháu sẽ phát huy được khả năng của mình, đối với trẻ có

bài làm yếu thì cô nên động viên và hỗ trợ trẻ để lần sau trẻ
sẽ tốt hơn.
c/ Chức năng sàng lọc, lựa chọn.
VD: Tổ chức cho các cháu “Đêm rằm trung thu”, muốn cho
lớp mình 1 tiết mục hát để cho các cháu diễn tối hôm đấy.
Giáo viên cần phải tổ chức cho các cháu hát ở lớp, phát hiện
cháu nào hát hay thì tuyển chọn cháu đó lên hát.
d/ Chức năng cải tiến, dự báo.
4. Những yêu cầu đối với việc đánh giá trong GDMN
? Phân tích các yêu cầu đối với việc đánh giá? Vì sao phải
đảm bảo các yêu cầu đó?
a/ Tính quy chuẩn
Vì đảm bảo chất lượng dạy và học, đảm bảo phát triển toàn
diện nhân cách người học. Những chuẩn này được công bố 1
cách công khai. Đánh giá cần mang tính quy chuẩn vì mục
tiêu lớn nhất nó đảm bảo nhân cách người học, đảm bảo cho
lợi ích của người được đánh giá, vì thế đánh giá cần đi theo
những quy định nhất định.
b/ Tính khách quan
– Đánh giá mang tính khách quan có nghĩa là đánh giá vì sự
tiến bộ và phát triển của cá nhân người học mà không bị chi
phối bởi bất kì 1 yếu tố chủ quan nào khác.
– Trong công tác quản lý cần xây dựng quy trình đánh giá
một cách công bằng, chặt chẽ, nghiêm chỉnh, an toàn. Đánh

giá cần mang tính khách quan là bởi vì nó có thể kích thích
tạo động lực cho người được đánh giá và cho ra kết quả
đáng tin cậy làm cơ sở cho các quyết định quản lý khác.
c/ Tính xác nhận và phát triển

– Tính xác nhận là việc đánh giá đối tượng cần đánh giá mà
nó gắn liền với hiện thực của đối tượng so với mục tiêu đạt
ra.
– Kết quả của quá trình đánh giá không mang tính vĩnh
hằng, nó chỉ tồn tại trong 1 giai đoạn nhất định, kết quả đó
nó sẽ dự báo giai đoạn phát triển tiếp theo của đối tượng.
Khi đánh giá mang tính khách quan và xác nhận thì
chắc chắn nó cũng mang tính phát triển.
Kết quả của đánh giá không chỉ giúp người được đánh
giá biết được hiện thực của mình như thế nào mà còn giúp
hình thành con đường phát triển đi lên tạo ra được động cơ
phấn đấu của đối tượng được đánh giá.
II. Mục tiêu giáo dục- Cơ sở của đánh giá trong GDMN.
1. Phân biệt định hướng, mục đích và mục tiêu GD
Đích: Phát triển toàn diện nhân cách trẻ


Phát triển thể chất, nhận thức, ngôn ngữ, tình cảm XH,
thẩm mỹ.


Hành động: Làm quen với toán, văn học, MTXQ, âm nhạc,
tạo hình, lao động, tham quan, dạo chơi.
– Định hướng chính là cái đích mang tính chung chung khái
quát bao trùm lên nhiều lớp hiện tượng, định hướng trong
GD mang tính chiến lược tổng quát, chỉ rõ được yêu cầu của
xã hội đối với giáo dục và đào tạo.
– Mục đích chính là sự hình thành năng lực, phẩm chất thực
tiễn của giáo dục, nó vẫn mang tính khái quát chung chung
và chưa chỉ ra được những hành động cụ thể. Tuy nhiên nó

lại tạo ra sự hướng dẫn cho các nhà giáo dục, giúp họ có thể
cụ thể hóa những mục đích thành các cấp độ có thể đánh giá
và quan sát được.
– Mục tiêu chỉ rõ ra được hành vi cụ thể trong 1 điều kiện cụ
thể, có rất nhiều mục tiêu như khóa học, bài học.

? Vì sao mục tiêu giáo dục lại là cơ sở quan trọng của đánh
giá trong GD (T21)
III. Nội dung và phương pháp đánh giá trong giáo dục
Chương 2: Đánh giá chất lượng cơ sở giáo dục mầm non
I. Khái niệm, ý nghĩ.
– Cơ sở giáo dục là nơi diễn ra các hoạt động giáo dục theo
các hình thức chính quy hoặc không chính quy.
– Cơ sở giáo dục mầm non là nơi diễn ra các hoạt động
GDMN theo hình thức tư thục hoặc công lập.
– Chất lượng là thuộc tính, phong cách nhân cách đáp ứng
nhu cầu xã hội.
– Chất lượng giáo dục phù hợp với mục tiêu giáo dục
– Chất lượng GDMN phù hợp với mục tiêu GDMN với mục
tiêu là phát triển toàn diện nhân cách trẻ về đức, trí, thẩm
mĩ và lao động.
II. Đánh giá chất lượng cơ sở GDMN
? Phân tích các tiêu chí để tạo nên chất lượng cơ bản của
GDMN
1. Ngữ cảnh: Trình độ nhận thức và thái độ cộng đồng tác
động đến GDMN.
– Sự phát triển kinh tế – XH như vũ bão tác động đến hệ
thống giáo dục quốc dân và đến sự phát triển của GDMN.
2. Đầu vào:

– Người học: Số lượng tăng lên, sự sẵn sàng nhập học.
– Người dạy: Những năm gần đây số lượng tăng nhanh
phẩm chất đạo đức, năng lực nghề nghiệp đa phần từ bậc
trung cấp, cao đẳng và đại học liên thông. Kỹ năng về
chuyên môn sư phạm tốt, các kỹ năng này học trên thực tế
và trao đổi kinh nghiệm với hội đồng giáo viên trong trường,
kỹ năng soạn giáo án của các giáo viên, kỹ năng quản lý lớp.
– Chương trình giáo dục:
+ Thời gian, thời lượng: đi theo độ tuổi, chủ đề, chủ điểm
chịu sự quy định của bộ giáo dục.
+ Sự phù hợp của chương trình: phù hợp về chương trình
đổi mới tích hợp theo chủ đề chủ điểm, sự phù hợp về độ
tuổi, phù hợp theo chủ đề chủ điểm.

+ Sự đa dạng: đa dạng về chủ đề chủ điểm, chủ đề nhánh, đa
dạng về nội dung qua các hoạt động giáo dục mang tính tích
hợp, đa dạng về đồ dùng, đồ chơi, nguyên vật liệu.
– Đầu tư: cơ sở vật chất, tài chính.
* Quản lý hệ thống
– Tổ chức hệ thống: nhân lực quản lý
– Chính sách: Đối với trẻ, giáo viên và đầu tư.
– Vận Hành
* Đầu ra:
– Sự phát triển mạng lưới trường: Sự mở rộng trường mầm
non
– Sự phát triển của trẻ: thể chất, tâm lý, nhận thức.
– Sự phát triển của người dạy: Phát triển về số lượng, trình
độ.
– Lợi ích kinh tế: Sự thỏa mãn của cha mẹ và cộng đồng

* Ngữ cảnh:
– Kinh tế phát triển dẫn đến nhu cầu của con người cũng
được tăng cao: ăn mặc, học tập, vui chơi, giải trí, nhu cầu tự
khẳng định mình. Do đó, vấn đề nhận thức trong xã hội
ngày được quan tâm, các bậc phụ huynh lưu tâm đến việc
học tập của con mình ở lứa tuổi mầm non, tìm hiểu trường
cho con mình, học qua các thông tin đại chúng.
– Nhận thức cộng đồng tiến bộ hơn so với trước kia, tuy
nhiên ở những vùng nông thôn, miền núi mà đặc biệt là
vùng núi cao, do kinh tế chưa phát triển, sống chủ yếu bằng
nghề nông nghiệp. Có nhiều hộ gia đình chưa có đủ điều
kiện để đưa con em họ đến trường. Do vậy, nhà nước cần có
chế độ quan tâm đặc biệt hoặc làm công tác dân vận để
người dân ở những vùng này thấy được tầm quan trọng của
bậc học mầm non và đưa con em mình đến trường.
* Đầu vào:
– Người học: Do nhận thức của người dân về bậc học mầm
non nên tỷ lệ đến trường của trẻ tăng cao hơn trước, nhà
nước quan tâm đến vấn đề phổ cập GDMN có nghĩa là tất cả
trẻ ở lứa tuổi mầm non bao gồm nhà trẻ, MG bé, nhỡ, lớn
đều được đến trường lớp.

Tính đến năm học 2012-2013 toàn quốc có khoảng
13.741.000 trường mầm non, tỉ lệ trẻ đến trường mầm non
tăng cao ở tất cả các độ tuổi. Cụ thể, lứa tuổi nhà trẻ tăng
23%, mẫu giáo đạt 86.5%, trẻ mẫu giáo đến trường đạt
99.7%.
– Người dạy: Giáo viên có trình độ chuyên môn nghề nghiệp
cao, nhưng chủ yếu tập trung ở những trường chuẩn thuộc

thành thị, cũng có những giáo viên ở vùng nông thôn chưa
được quan tâm, tri trả lương theo năng lực và theo bảng
lương dẫn đến tình trạng bỏ nghề. Hiện nay, các giáo viên
chưa đạt chuẩn về nghề nghiệp tương đối nhiều, dẫn đến sự
hạn chế trong khâu chăm sóc và giáo dục nên nhiều tai nạn
thương tâm ở trường MN.
Ở vùng thành thị nên kinh tế phát triển, cha mẹ mong
muốn cho con em mình vào các trường chuẩn nên dẫn đến
tình trạng quá tải về số lượng trẻ trong 1 lớp, trong khi đó
giáo viên tối đa trên lớp chỉ có 3 cô dẫn đến thực trạng chưa
đảm bảo hiệu quả trong công tác chăm sóc và giáo dục.
* Quản lý hệ thống
* Đầu ra
Chương 3: Đánh giá chương trình GDMN
I. Đánh giá chương trình GD
1. KN CTGD
2. Các tiêu chí đánh giá CTGDMN
a/ Tính trình tự: Được hiểu như thứ tự của nội dung chương
trình được thể hiện ở thứ tự các nội dung từ dễ đến khó, từ
đơn giản đến phức tạp. Thể hiện ở tính cấu trúc, logic hình
thức của chương trình.
b/ Tính cố kết: Thể hiện ở việc các khối kiến thức và có sự
liên quan chặt chẽ với nhau và luôn được cũng cố lại khi tiếp
nhận kiến thức sau.
c/ Tính phù hợp: của chương trình được xem xét trên cơ sở
mục tiêu giáo dục, phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh, môi
trường giáo dục, phù hợp với văn hóa dân tộc cũng như địa
phương và phù hợp với tâm sinh lý của độ tuổi.
d/ Tính cân đối: Được xem là 1 tiêu chí quan trọng để xác
định tỷ lệ các khối kiến thức kỹ năng, giữa dạy học và giáo

dục, giữa sự phát triển nhận thức và tình cảm, giữa hoạt
động tĩnh và động, giữa phát triển thể chất và phát triển trí
tuệ.
e/ Tính cập nhật là một trong những tiêu chí quan trọng
trong đánh giá chương trình và liên quan đến tính phù hợp.
f/ Tính hiệu quả: Là tiêu chí quan trọng nhất của chương
trình. Một chương trình hiệu quả là chương trình có thể
mang lại cho người học năng lực hành động, là chương trình
có thể chuyển hóa tri thức thành năng lực thực tiễn.
3. Các loại đánh giá chương trình GD
a/ Đánh giá tổng kết
b/ Đánh giá hình thành
4. Người đánh giá chương trình
Các yêu cầu đối với người đánh giá
– Nếu đánh giá tổng kết thì lựa chọn những người đánh giá
có tư cách độc lập, không bị ràng buộc trong mối quan hệ
với người xây dựng chương trình, thực hiện chỉ đạo chương
trình, có đủ trình độ khoa học, uy tín chuyên môn về giáo
dục và dạy học
– Nếu đánh giá hình thành nên chọn người đánh giá từ
những người tham gia chính vào việc thực hiện chương
trình.
II. Chương trình GDMN
* Quan điểm xây dựng CTGDMN: Giáo dục tích hợp lấy trẻ
làm trung tâm.
* Nội dung chương trình
– Nhà trẻ: Phát triển thể chất, nhận thức, ngôn ngữ, tình
cảm XH.

– Mẫu giáo: Thẩm mỹ, thể chất, nhận thức, ngôn ngữ, tình
cảm XH.
* Cách đánh giá
* Phân tích các tiêu chí
III. Tổ chức đánh giá thực hiện CTGDMN
* Xác định chỉ số để đánh giá CTGD.
– Mục tiêu là căn cứ để đánh giá chương trình GD và mọi
hoạt động của nhà trường. Từ mục tiêu tổng quát chúng ta

cần cụ thể hóa thành các tiêu chí, các chỉ số để đo đạc và
đánh giá chương trình .
* Xác định nội dung quy trình đánh giá chương trình giáo
dục: Để đánh giá hiệu quả của 1 CTGD cần đánh giá các yếu
tố liên quan đến việc thực hiện chương trình
* Xác định các nguồn thu thập thông tin để đánh giá chương
trình
Chương IV Đánh giá hoạt động nghề nghiệp của giáo viên
mầm non
I Chuẩn nghề nghiệp của giáo viên mầm non
* Chuẩn là giá trị được thừa nhận trong 1 XH hay 1 tổ chức
và là đích để xã hội thừa nhận và hướng tới.
* Chuẩn nghề nghiệp giáo viên mầm non: Phẩm chất chính
trị, đạo đức, lối sống, kiến thức cơ sở chuyên ngành, kỹ năng
sư phạm.
* Ý nghĩa của chuẩn với việc
– Giáo viên đạt chuẩn nghề nghiệp sẽ là cơ sở để ứng dụng
vào trong thực tiễn, trong công tác giáo dục và chăm sóc của
mình.
– GVMN được đào tạo theo nhiều hệ khác nhau. Nhưng mục

tiêu của chương trình và nội dung của chương trình GDMN
là thống nhất: Đảm bảo chất lượng chăm sóc và giáo dục trẻ.
– Việc đánh giá chuẩn của giáo viên mầm non sẽ giúp cho
giáo viên tự đánh giá được năng lực của mình so với các yêu
cầu và quy định của ngành, từ đấy có được kế hoạch rèn
luyện, phấn đấu.
– Chuẩn nghề nghiệp của GVMN là cơ sở để xây dựng đổi
mới mục tiêu giáo dục, nội dung đào tạo, bồi dưỡng GVMN
ở các cơ sở đào tạo khác nhau.
– Chuẩn nghề nghiệp giúp cho giáo viên mầm mon tự đánh
giá được năng lực của mình. Trên cơ sở đó xây dựng được
kế hoạch rèn luyện, phấn đấu của bản thân để nâng cao về
phẩm chất đạo đức, chuyên môn cũng như nghiệp vụ sư
phạm.
– Chuẩn sẽ là cơ sở đánh giá giáo viên hàng năm theo quy
chế đánh giá xếp loại GVMN để phục vụ cho công tác tổ
chức quản lý, bồi dưỡng và quy hoạch đội ngũ GVMN.

– Chuẩn sẽ làm cơ sở để đề xuất chính sách đãi ngộ cho giáo
viên.
* Trong sự phát triển và thay đổi của XHVN như hiện nay
đặt ra rất nhiều yêu cầu cho ngành học GVMN. Ở đó việc
xây dựng mô hình nhân cách của GVMN bao gồm các phẩm
chất chính trị, đạo đức, năng lực nghề nghiệp, kỹ năng sư
phạm là những vấn đề được quan tâm hàng đầu của đảng,
nhà nước, các cấp, các ngành liên quan. Bởi nó ảnh hưởng
trực tiếp đến chất lượng GDMN.
Cả 3 yếu tố đều quan trọng
– Trên thực tế trong thời gian qua có rất nhiều vụ liên quan

đến bạo hành trẻ em, ảnh hưởng đến phẩm chất đạo đức của
người giáo viên. Hầu hết là xảy ra ở các cơ sở tư thục. Bên
cạnh đó còn xảy ra ở những giáo viên được đào tạo bài bản,
có nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng trên như lương
thấp, thời gian làm việc nhiều, thiếu sự quan tâm thông cảm
của các bậc phụ huynh, hơn nữa 1 nguyên nhân thẳng thắn
chỉ ra ở đây đó là trình độ giáo viên thấp, thời gian làm việc
nhiều, thiếu sự quan tâm thông cảm của các bậc phụ huynh,
hơn nữa 1 nguyên nhân thẳng thắn chỉ ra ở đây đó là trình
độ giáo viên thấp nhiều cơ sở mầm non khó tuyển được giáo
viên ở các trình độ đại học, cao đẳng nhiều học sinh giỏi
không mặn mà thi vào ngành này. Tóm lại, trong rất nhiều
tiêu chuẩn nghề nghiệp của GVMN, tiêu chuẩn nào cũng cần
thiết để giáo viên mầm non có thể đạt chuẩn trong lĩnh vực
nghề nghiệp, cần hòa trộn nhiều đặc điểm nhân cách chứ
không phải là kết quả của những nguyên nhân nằm cạnh
nhau, tách rời nhau.
II. Nguồn cung cấp minh chứng.
Chương V Đánh giá sự phát triển của trẻ
I. Sự phát triển tâm lý của trẻ và nguyên tắc đánh giá sự
phát triển tâm lý của trẻ
1. Sự phát triển tâm lý của trẻ
– Sự phát triển tâm lý của trẻ diễn ra nhanh và đầy biến
động, là quá trình không phẳng lặng, có khủng hoảng và đột
biến.

– Hoạt động của trẻ dưới sự hướng dẫn của người lớn là
nhân tố quyết định của trẻ được hình thành và phát triển.
– Sự phát triển tâm lý của trẻ được diễn ra trên nền của 1 cơ

sở vật chất nhất định (có thể người với yếu tố bẩm sinh-di
truyền). Đây là điều kiện cần thiết, là tiền đề cho sự phát
triển tâm lí.
2. Nguyên tắc đánh giá sự phát triển tâm lý trẻ.
a/ Đánh giá trong mối quan hệ, liên hệ: Khi đánh giá 1 tâm
lý nào đó, người ta phải đánh giá đến các yếu tố liên quan.
b/ Đánh giá trẻ trong môi trường gần với môi trường sống
của trẻ: Khi đánh giá trẻ, người đánh giá cần đảm bảo môi
trường gần với cuộc sống bình thường của trẻ nhất. Sự phát
triển và học tập diễn ra liên tục như kết quả của quá trình
tương tác của trẻ với môi trường.
c/ Đánh giá trong hoạt động
d/ Đánh giá trong sự phát triển
II. Nội dung đánh giá sự phát triển của trẻ
1. Các mốc phát triển kỳ vọng cho mỗi giai đoạn lứa tuổi
của trẻ.
* Sơ sinh 3 tháng tuổi: Trẻ bắt đầu cười, nhìn theo người
hoặc vật, thích các gương mặt và những mầu sắc tươi sáng
với khám phá chân và tay, nâng đều lên, ngoảnh về phía
phát ra âm thanh, khóc nhưng thường nín khi được bế.
* trẻ 4 đến 6 tháng tuổi: Trẻ cười nhiều hơn, thích theo cha
mẹ và anh chị, lặp lại các hành động với những kết quả thú
vị, chăm chú lắng nghe, đáp lại khi được trò chuyện, cho
mọi thứ vào miệng.
* Trẻ 7 đến 12 tháng tuổi: Trẻ nhớ được các sự kiện đơn
giản, nhận biết bản thân mình, các bộ phận trên cơ thể,
những giọng nói quen thuộc, hiểu được tên mình và những
từ thường gặp khác; nói những từ có nghĩa đầu tiên, khám
phá, đập và lắc đồ vật, tìm những vật bị giấu, cho đồ đạc vào
ngăn chứa, ngồi 1 mình, bò và bám bàn ghế để đứng và đi

men, trẻ có thể cảm thấy lạ và sợ người lạ.
Chương VII Phương pháp trong đánh giá

Như vậy, để triển khai việc làm đánh giá, luôn luôn cần phảiđo lường những đại lượng cần đo và định giá trị nó. VD : Để xác lập được mức độ hứng thú của trẻ 5-6 tuổi khitham gia vào hoạt động giải trí tạo hình và đi đến 1 Tóm lại rằngtính hứng thú của trẻ độ tuổi này tiêu biểu vượt trội hơn so với độtuổi khác. Chúng ta sẽ phải triển khai đánh giá thông quacác bài tập giám sát về mức độ hứng thú của trẻ đó là cácbài tập về vẽ, nặn, xé, cắt, dán, chắp ghép qua những độ tuổi bé, nhỡ và lớn. Ở mỗi một bài tập giám sát tất cả chúng ta lại định giátrị ở những mức độ tốt, khá, trung bình và yếu rồi từ đó đi đếnkết luận bắt đầu. 2. Vị trí, vai trò của đánh giáVì sao đánh giá được xem là công cụ quan trọng của giáoviên và nhà quản lí giáo dục ? – Đánh giá là giải pháp quan trọng của nhà quản trị giáo dụcvà là công cụ của những nhà quản trị. + Đánh giá giúp cho những nhà quản trị biết được chất lượnggiáo dục đã đạt được tiềm năng hay chưa, đạt ở mức độ nàođể từ đấy kiểm soát và điều chỉnh được nội dung, phương pháp tổ chức triển khai đạtmục tiêu ( tổ chức triển khai đánh giá, kiểm soát và điều chỉnh chương trình huấn luyện và đào tạo, nội dung đào tạo và giảng dạy, những hình thức tổ chức triển khai dạy và học ). Chỉcó khi thực thi quy trình đánh giá thì những nhà quản trị giáodục mới có được những thông tin phản hồi kịp thời pháthiện những yếu tố và xử lý những yếu tố. + Đánh giá là 1 trong số những giải pháp đi sâu vào việc cảicách giáo dục bởi cải cách giáo dục đều phải lấy đánh giálàm cơ sở. – Đánh giá là công cụ hành nghề của giáo viên mầm non. Giáo viên là người trực tiếp tạo ra những mẫu sản phẩm giáo dục, muốn biết được mẫu sản phẩm của mình đạt chất lượng haykhông thì phải triển khai đánh giá. + Kết quả của việc đánh giá cung ứng thông tin cho giáo viênkịp thời kiểm soát và điều chỉnh những mặt hạn chế về mặt nội dung, chiêu thức và bổ trợ những mặt hạn chế đó. + Để đánh giá đạt chất lượng, giáo viên cần xác lập đượcmục đích đánh giá. Có 3 mục tiêu : / Hình thành những quyết định hành động đơn cử về cá thể hay 1 nhóm trẻ. / Lập kế hoạch dạy học hoặc đánh giá cho quá trình tiếptheo. / Điều chỉnh những hành vi của trẻ + Giáo viên hoàn toàn có thể sử dụng hiệu quả đánh giá trong việc quảnlý lớp học và tác dụng đánh giá của giáo viên sẽ trao đổi vớiphụ huynh, do đó giáo viên cần đánh giá 1 cách khách quanvà công minh. 3. Chức năng của đánh giá trong giáo dục mầm non ? Hãy nghiên cứu và phân tích những công dụng của đánh giá trong GDMN ? VD ? a / Chức năng định hướngVD : Giáo viên đánh giá, xác lập hoạt động giải trí tạo hình của trẻ. Mục tiêu đạt 90 % theo ý của cô, nhưng trong khi đó trẻ chỉđạt 50 %. Giáo viên nhận thấy được tác dụng không đạt vàgiáo viên phải nghĩ xem làm thế nào để đạt được tiềm năng. b / Chức năng kích thích, tạo động lựcVD : Cô khen những bài làm tốt, cô khuyến khích giờ vẽ lầnsau cháu sẽ phát huy được năng lực của mình, so với trẻ cóbài làm yếu thì cô nên động viên và tương hỗ trẻ để lần sau trẻsẽ tốt hơn. c / Chức năng sàng lọc, lựa chọn. VD : Tổ chức cho những cháu ” Đêm rằm trung thu “, muốn cholớp mình 1 tiết mục hát để cho những cháu diễn tối hôm đấy. Giáo viên cần phải tổ chức triển khai cho những cháu hát ở lớp, phát hiệncháu nào hát hay thì tuyển chọn cháu đó lên hát. d / Chức năng nâng cấp cải tiến, dự báo. 4. Những nhu yếu so với việc đánh giá trong GDMN ? Phân tích những nhu yếu so với việc đánh giá ? Vì sao phảiđảm bảo những nhu yếu đó ? a / Tính quy chuẩnVì bảo vệ chất lượng dạy và học, bảo vệ tăng trưởng toàndiện nhân cách người học. Những chuẩn này được công bố 1 cách công khai minh bạch. Đánh giá cần mang tính quy chuẩn vì mụctiêu lớn nhất nó bảo vệ nhân cách người học, bảo vệ cholợi ích của người được đánh giá, vì vậy đánh giá cần đi theonhững pháp luật nhất định. b / Tính khách quan – Đánh giá mang tính khách quan có nghĩa là đánh giá vì sựtiến bộ và tăng trưởng của cá thể người học mà không bị chiphối bởi bất kể 1 yếu tố chủ quan nào khác. – Trong công tác làm việc quản trị cần thiết kế xây dựng quá trình đánh giámột cách công minh, ngặt nghèo, nghiêm chỉnh, bảo đảm an toàn. Đánhgiá cần mang tính khách quan là chính do nó hoàn toàn có thể kích thíchtạo động lực cho người được đánh giá và cho ra kết quảđáng an toàn và đáng tin cậy làm cơ sở cho những quyết định hành động quản trị khác. c / Tính xác nhận và tăng trưởng – Tính xác nhận là việc đánh giá đối tượng người tiêu dùng cần đánh giá mànó gắn liền với hiện thực của đối tượng người tiêu dùng so với tiềm năng đạtra. – Kết quả của quy trình đánh giá không mang tính vĩnhhằng, nó chỉ sống sót trong 1 quá trình nhất định, tác dụng đónó sẽ dự báo tiến trình tăng trưởng tiếp theo của đối tượng người dùng. Khi đánh giá mang tính khách quan và xác nhận thìchắc chắn nó cũng mang tính tăng trưởng. Kết quả của đánh giá không chỉ giúp người được đánhgiá biết được hiện thực của mình như thế nào mà còn giúphình thành con đường tăng trưởng đi lên tạo ra được động cơphấn đấu của đối tượng người tiêu dùng được đánh giá. II. Mục tiêu giáo dục – Cơ sở của đánh giá trong GDMN. 1. Phân biệt xu thế, mục tiêu và tiềm năng GDĐích : Phát triển tổng lực nhân cách trẻPhát triển sức khỏe thể chất, nhận thức, ngôn từ, tình cảm XH, thẩm mỹ và nghệ thuật. Hành động : Làm quen với toán, văn học, MTXQ, âm nhạc, tạo hình, lao động, thăm quan, đi dạo. – Định hướng chính là cái đích mang tính chung chung kháiquát bao trùm lên nhiều lớp hiện tượng kỳ lạ, xu thế trongGD mang tính kế hoạch tổng quát, chỉ rõ được nhu yếu củaxã hội so với giáo dục và đào tạo và giảng dạy. – Mục đích chính là sự hình thành năng lượng, phẩm chất thựctiễn của giáo dục, nó vẫn mang tính khái quát chung chungvà chưa chỉ ra được những hành vi đơn cử. Tuy nhiên nólại tạo ra sự hướng dẫn cho những nhà giáo dục, giúp họ có thểcụ thể hóa những mục tiêu thành những Lever hoàn toàn có thể đánh giávà quan sát được. – Mục tiêu chỉ rõ ra được hành vi đơn cử trong 1 điều kiện kèm theo cụthể, có rất nhiều tiềm năng như khóa học, bài học kinh nghiệm. ? Vì sao tiềm năng giáo dục lại là cơ sở quan trọng của đánhgiá trong GD ( T21 ) III. Nội dung và chiêu thức đánh giá trong giáo dụcChương 2 : Đánh giá chất lượng cơ sở giáo dục mầm nonI. Khái niệm, ý nghĩ. – Cơ sở giáo dục là nơi diễn ra những hoạt động giải trí giáo dục theocác hình thức chính quy hoặc không chính quy. – Cơ sở giáo dục mầm non là nơi diễn ra những hoạt độngGDMN theo hình thức tư thục hoặc công lập. – Chất lượng là thuộc tính, phong thái nhân cách đáp ứngnhu cầu xã hội. – Chất lượng giáo dục tương thích với tiềm năng giáo dục – Chất lượng GDMN tương thích với tiềm năng GDMN với mụctiêu là tăng trưởng tổng lực nhân cách trẻ về đức, trí, thẩmmĩ và lao động. II. Đánh giá chất lượng cơ sở GDMN ? Phân tích những tiêu chuẩn để tạo nên chất lượng cơ bản củaGDMN1. Ngữ cảnh : Trình độ nhận thức và thái độ hội đồng tácđộng đến GDMN. – Sự tăng trưởng kinh tế tài chính – XH như vũ bão ảnh hưởng tác động đến hệthống giáo dục quốc dân và đến sự tăng trưởng của GDMN. 2. Đầu vào : – Người học : Số lượng tăng lên, sự chuẩn bị sẵn sàng nhập học. – Người dạy : Những năm gần đây số lượng tăng nhanhphẩm chất đạo đức, năng lượng nghề nghiệp phần lớn từ bậctrung cấp, cao đẳng và ĐH liên thông. Kỹ năng vềchuyên môn sư phạm tốt, những kiến thức và kỹ năng này học trên thực tếvà trao đổi kinh nghiệm tay nghề với hội đồng giáo viên trong trường, kỹ năng và kiến thức soạn giáo án của những giáo viên, kiến thức và kỹ năng quản trị lớp. – Chương trình giáo dục : + Thời gian, thời lượng : đi theo độ tuổi, chủ đề, chủ điểmchịu sự pháp luật của bộ giáo dục. + Sự tương thích của chương trình : tương thích về chương trìnhđổi mới tích hợp theo chủ đề chủ điểm, sự tương thích về độtuổi, tương thích theo chủ đề chủ điểm. + Sự phong phú : phong phú về chủ đề chủ điểm, chủ đề nhánh, đadạng về nội dung qua những hoạt động giải trí giáo dục mang tính tíchhợp, phong phú về vật dụng, đồ chơi, nguyên vật liệu. – Đầu tư : cơ sở vật chất, kinh tế tài chính. * Quản lý mạng lưới hệ thống – Tổ chức mạng lưới hệ thống : nhân lực quản trị – Chính sách : Đối với trẻ, giáo viên và góp vốn đầu tư. – Vận Hành * Đầu ra : – Sự tăng trưởng mạng lưới trường : Sự lan rộng ra trường mầmnon – Sự tăng trưởng của trẻ : sức khỏe thể chất, tâm ý, nhận thức. – Sự tăng trưởng của người dạy : Phát triển về số lượng, trìnhđộ. – Lợi ích kinh tế tài chính : Sự thỏa mãn nhu cầu của cha mẹ và hội đồng * Ngữ cảnh : – Kinh tế tăng trưởng dẫn đến nhu yếu của con người cũngđược tăng cao : ăn mặc, học tập, đi dạo, vui chơi, nhu yếu tựkhẳng định mình. Do đó, yếu tố nhận thức trong xã hộingày được chăm sóc, những bậc cha mẹ lưu tâm đến việchọc tập của con mình ở lứa tuổi mầm non, tìm hiểu và khám phá trườngcho con mình, học qua những thông tin đại chúng. – Nhận thức hội đồng văn minh hơn so với trước kia, tuynhiên ở những vùng nông thôn, miền núi mà đặc biệt quan trọng làvùng núi cao, do kinh tế tài chính chưa tăng trưởng, sống đa phần bằngnghề nông nghiệp. Có nhiều hộ mái ấm gia đình chưa có đủ điềukiện để đưa con trẻ họ đến trường. Do vậy, nhà nước cần cóchế độ chăm sóc đặc biệt quan trọng hoặc làm công tác làm việc dân vận đểngười dân ở những vùng này thấy được tầm quan trọng củabậc học mầm non và đưa con trẻ mình đến trường. * Đầu vào : – Người học : Do nhận thức của người dân về bậc học mầmnon nên tỷ suất đến trường của trẻ tăng cao hơn trước, nhànước chăm sóc đến yếu tố phổ cập GDMN có nghĩa là tất cảtrẻ ở lứa tuổi mầm non gồm có nhà trẻ, MG bé, nhỡ, lớnđều được đến trường học. Tính đến năm học 2012 – 2013 toàn nước có khoảng13. 741.000 trường mầm non, tỉ lệ trẻ đến trường mầm nontăng cao ở toàn bộ những độ tuổi. Cụ thể, lứa tuổi nhà trẻ tăng23 %, mẫu giáo đạt 86.5 %, trẻ mẫu giáo đến trường đạt99. 7 %. – Người dạy : Giáo viên có trình độ trình độ nghề nghiệpcao, nhưng đa phần tập trung chuyên sâu ở những trường chuẩn thuộcthành thị, cũng có những giáo viên ở vùng nông thôn chưađược chăm sóc, tri trả lương theo năng lượng và theo bảnglương dẫn đến thực trạng bỏ nghề. Hiện nay, những giáo viênchưa đạt chuẩn về nghề nghiệp tương đối nhiều, dẫn đến sựhạn chế trong khâu chăm nom và giáo dục nên nhiều tai nạnthương tâm ở trường MN.Ở vùng thành thị nên kinh tế tài chính tăng trưởng, cha mẹ mongmuốn cho con trẻ mình vào những trường chuẩn nên dẫn đếntình trạng quá tải về số lượng trẻ trong 1 lớp, trong khi đógiáo viên tối đa trên lớp chỉ có 3 cô dẫn đến tình hình chưađảm bảo hiệu quả trong công tác làm việc chăm nom và giáo dục. * Quản lý mạng lưới hệ thống * Đầu raChương 3 : Đánh giá chương trình GDMNI. Đánh giá chương trình GD1. KN CTGD2. Các tiêu chuẩn đánh giá CTGDMNa / Tính trình tự : Được hiểu như thứ tự của nội dung chươngtrình được biểu lộ ở thứ tự những nội dung từ dễ đến khó, từđơn giản đến phức tạp. Thể hiện ở tính cấu trúc, logic hìnhthức của chương trình. b / Tính cố kết : Thể hiện ở việc những khối kiến thức và kỹ năng và có sựliên quan ngặt nghèo với nhau và luôn được cũng cố lại khi tiếpnhận kỹ năng và kiến thức sau. c / Tính tương thích : của chương trình được xem xét trên cơ sởmục tiêu giáo dục, tương thích với điều kiện kèm theo, thực trạng, môitrường giáo dục, tương thích với văn hóa truyền thống dân tộc bản địa cũng như địaphương và tương thích với tâm sinh lý của độ tuổi. d / Tính cân đối : Được xem là 1 tiêu chuẩn quan trọng để xácđịnh tỷ suất những khối kiến thức và kỹ năng kiến thức và kỹ năng, giữa dạy học và giáodục, giữa sự tăng trưởng nhận thức và tình cảm, giữa hoạtđộng tĩnh và động, giữa tăng trưởng sức khỏe thể chất và tăng trưởng trítuệ. e / Tính update là một trong những tiêu chuẩn quan trọngtrong đánh giá chương trình và tương quan đến tính tương thích. f / Tính hiệu suất cao : Là tiêu chuẩn quan trọng nhất của chươngtrình. Một chương trình hiệu suất cao là chương trình có thểmang lại cho người học năng lượng hành vi, là chương trìnhcó thể chuyển hóa tri thức thành năng lượng thực tiễn. 3. Các loại đánh giá chương trình GDa / Đánh giá tổng kếtb / Đánh giá hình thành4. Người đánh giá chương trìnhCác nhu yếu so với người đánh giá – Nếu đánh giá tổng kết thì lựa chọn những người đánh giácó tư cách độc lập, không bị ràng buộc trong mối quan hệvới người thiết kế xây dựng chương trình, thực thi chỉ huy chươngtrình, có đủ trình độ khoa học, uy tín trình độ về giáodục và dạy học – Nếu đánh giá hình thành nên chọn người đánh giá từnhững người tham gia chính vào việc triển khai chươngtrình. II. Chương trình GDMN * Quan điểm kiến thiết xây dựng CTGDMN : Giáo dục tích hợp lấy trẻlàm TT. * Nội dung chương trình – Nhà trẻ : Phát triển sức khỏe thể chất, nhận thức, ngôn từ, tìnhcảm XH. – Mẫu giáo : Thẩm mỹ, sức khỏe thể chất, nhận thức, ngôn từ, tìnhcảm XH. * Cách đánh giá * Phân tích những tiêu chíIII. Tổ chức đánh giá triển khai CTGDMN * Xác định chỉ số để đánh giá CTGD. – Mục tiêu là địa thế căn cứ để đánh giá chương trình GD và mọihoạt động của nhà trường. Từ tiềm năng tổng quát chúng tacần cụ thể hóa thành những tiêu chuẩn, những chỉ số để đo đạc vàđánh giá chương trình. * Xác định nội dung tiến trình đánh giá chương trình giáodục : Để đánh giá hiệu suất cao của 1 CTGD cần đánh giá những yếutố tương quan đến việc triển khai chương trình * Xác định những nguồn tích lũy thông tin để đánh giá chươngtrìnhChương IV Đánh giá hoạt động giải trí nghề nghiệp của giáo viênmầm nonI Chuẩn nghề nghiệp của giáo viên mầm non * Chuẩn là giá trị được thừa nhận trong 1 XH hay 1 tổ chứcvà là đích để xã hội thừa nhận và hướng tới. * Chuẩn nghề nghiệp giáo viên mầm non : Phẩm chất chínhtrị, đạo đức, lối sống, kiến thức và kỹ năng cơ sở chuyên ngành, kỹ năngsư phạm. * Ý nghĩa của chuẩn với việc – Giáo viên đạt chuẩn nghề nghiệp sẽ là cơ sở để ứng dụngvào trong thực tiễn, trong công tác làm việc giáo dục và chăm nom củamình. – GVMN được đào tạo và giảng dạy theo nhiều hệ khác nhau. Nhưng mụctiêu của chương trình và nội dung của chương trình GDMNlà thống nhất : Đảm bảo chất lượng chăm nom và giáo dục trẻ. – Việc đánh giá chuẩn của giáo viên mầm non sẽ giúp chogiáo viên tự đánh giá được năng lượng của mình so với những yêucầu và lao lý của ngành, từ đấy có được kế hoạch rènluyện, phấn đấu. – Chuẩn nghề nghiệp của GVMN là cơ sở để kiến thiết xây dựng đổimới tiềm năng giáo dục, nội dung giảng dạy, tu dưỡng GVMNở những cơ sở đào tạo và giảng dạy khác nhau. – Chuẩn nghề nghiệp giúp cho giáo viên mầm mon tự đánhgiá được năng lượng của mình. Trên cơ sở đó kiến thiết xây dựng đượckế hoạch rèn luyện, phấn đấu của bản thân để nâng cao vềphẩm chất đạo đức, trình độ cũng như nhiệm vụ sưphạm. – Chuẩn sẽ là cơ sở đánh giá giáo viên hàng năm theo quychế đánh giá xếp loại GVMN để ship hàng cho công tác làm việc tổchức quản trị, tu dưỡng và quy hoạch đội ngũ GVMN. – Chuẩn sẽ làm cơ sở để đề xuất kiến nghị chủ trương đãi ngộ cho giáoviên. * Trong sự tăng trưởng và biến hóa của XHVN như hiện nayđặt ra rất nhiều nhu yếu cho ngành học GVMN. Ở đó việcxây dựng quy mô nhân cách của GVMN gồm có những phẩmchất chính trị, đạo đức, năng lượng nghề nghiệp, kỹ năng và kiến thức sưphạm là những yếu tố được chăm sóc số 1 của đảng, nhà nước, những cấp, những ngành tương quan. Bởi nó ảnh hưởngtrực tiếp đến chất lượng GDMN.Cả 3 yếu tố đều quan trọng – Trên thực tiễn trong thời hạn qua có rất nhiều vụ liên quanđến bạo hành trẻ nhỏ, ảnh hưởng tác động đến phẩm chất đạo đức củangười giáo viên. Hầu hết là xảy ra ở những cơ sở tư thục. Bêncạnh đó còn xảy ra ở những giáo viên được giảng dạy chuyên nghiệp và bài bản, có nhiều nguyên do dẫn đến thực trạng trên như lươngthấp, thời hạn thao tác nhiều, thiếu sự chăm sóc thông cảmcủa những bậc cha mẹ, hơn thế nữa 1 nguyên do thẳng thắnchỉ ra ở đây đó là trình độ giáo viên thấp, thời hạn làm việcnhiều, thiếu sự chăm sóc thông cảm của những bậc cha mẹ, hơn thế nữa 1 nguyên do thẳng thắn chỉ ra ở đây đó là trìnhđộ giáo viên thấp nhiều cơ sở mầm non khó tuyển được giáoviên ở những trình độ ĐH, cao đẳng nhiều học viên giỏikhông mặn mà thi vào ngành này. Tóm lại, trong rất nhiềutiêu chuẩn nghề nghiệp của GVMN, tiêu chuẩn nào cũng cầnthiết để giáo viên mầm non hoàn toàn có thể đạt chuẩn trong lĩnh vựcnghề nghiệp, cần hòa trộn nhiều đặc thù nhân cách chứkhông phải là hiệu quả của những nguyên do nằm cạnhnhau, tách rời nhau. II. Nguồn phân phối dẫn chứng. Chương V Đánh giá sự tăng trưởng của trẻI. Sự tăng trưởng tâm ý của trẻ và nguyên tắc đánh giá sựphát triển tâm ý của trẻ1. Sự tăng trưởng tâm ý của trẻ – Sự tăng trưởng tâm ý của trẻ diễn ra nhanh và đầy biếnđộng, là quy trình không yên bình, có khủng hoảng cục bộ và độtbiến. – Hoạt động của trẻ dưới sự hướng dẫn của người lớn lànhân tố quyết định hành động của trẻ được hình thành và tăng trưởng. – Sự tăng trưởng tâm ý của trẻ được diễn ra trên nền của 1 cơsở vật chất nhất định ( hoàn toàn có thể người với yếu tố bẩm sinh-ditruyền ). Đây là điều kiện kèm theo thiết yếu, là tiền đề cho sự pháttriển tâm lí. 2. Nguyên tắc đánh giá sự tăng trưởng tâm ý trẻ. a / Đánh giá trong mối quan hệ, liên hệ : Khi đánh giá 1 tâmlý nào đó, người ta phải đánh giá đến những yếu tố tương quan. b / Đánh giá trẻ trong thiên nhiên và môi trường gần với thiên nhiên và môi trường sốngcủa trẻ : Khi đánh giá trẻ, người đánh giá cần bảo vệ môitrường gần với đời sống thông thường của trẻ nhất. Sự pháttriển và học tập diễn ra liên tục như hiệu quả của quá trìnhtương tác của trẻ với thiên nhiên và môi trường. c / Đánh giá trong hoạt độngd / Đánh giá trong sự phát triểnII. Nội dung đánh giá sự tăng trưởng của trẻ1. Các mốc tăng trưởng kỳ vọng cho mỗi quá trình lứa tuổicủa trẻ. * Sơ sinh 3 tháng tuổi : Trẻ mở màn cười, nhìn theo ngườihoặc vật, thích những khuôn mặt và những mầu sắc tươi sángvới mày mò chân và tay, nâng đều lên, ngoảnh về phíaphát ra âm thanh, khóc nhưng thường nín khi được bế. * trẻ 4 đến 6 tháng tuổi : Trẻ cười nhiều hơn, thích theo chamẹ và anh chị, lặp lại những hành vi với những tác dụng thúvị, chú ý lắng nghe, đáp lại khi được trò chuyện, chomọi thứ vào miệng. * Trẻ 7 đến 12 tháng tuổi : Trẻ nhớ được những sự kiện đơngiản, nhận ra bản thân mình, những bộ phận trên khung hình, những giọng nói quen thuộc, hiểu được tên mình và nhữngtừ thường gặp khác ; nói những từ có nghĩa tiên phong, khámphá, đập và lắc vật phẩm, tìm những vật bị giấu, cho đồ vật vàongăn chứa, ngồi 1 mình, bò và bám bàn và ghế để đứng và đimen, trẻ hoàn toàn có thể cảm thấy lạ và sợ người lạ. Chương VII Phương pháp trong đánh giá

You may also like

Để lại bình luận